phật học cơ bản

Các cơ chế của sự tự dối mình

Trong tâm của mỗi con người bình thường đều có di sản của những ham muốn nguyên thuỷ được truyền lại từ những tổ tiên trước khi có loài người và tổ tiên người sơ khai của nhân loại trong cuộc đấu tranh sinh tồn của họ. Nhận ra những ham muốn nguyên sơ tồn tại trong bản thân là một trong những bước đầu tiên bạn phải làm trong tiến trình đi lên trên con đường hiểu biết bản thân; khước từ nhận ra chúng, chối bỏ nhìn nhận chúng như là những phần làm nên tâm bạn là xây lên ngay trong tâm bạn một bức tường tự lừa dối mình.
Thuở đầu đời, vì những người khác phản đối những ham muốn nguyên sơ đó, bạn đã học cách che đậy chúng và trong một số trường hợp xấu hổ vì chúng. Đầu tiên, bạn học từ chối thừa nhận chúng với những người khác, rồi ở giai đoạn sau bạn từ chối – ít nhất là cố gắng từ chối thừa nhận chúng với bản thân mình.


Một lý do của sự chối bỏ này là bạn muốn nghĩ tốt về bản thân, để bằng mọi giá giữ cho bản ngã của mình không bị đụng chạm. Thật ngẫu nhiên, chính ý thức bản ngã này là tâm điểm của sự tự lừa dối mình và cũng chính ý thức bản ngã này là tiêu điểm mà giáo lý của Đức Phật tập trung công kích.
*
Xét về các cơ chế mà tâm sử dụng trong nỗ lực tự lừa dối, sẽ hữu ích nếu chúng ta xem xét chúng về khía cạnh cấu trúc và chức năng của não.
Theo một cách nào đó bạn có thể coi não là một hệ thống rất phức tạp gồm các đường dẫn nhỏ và đường vòng theo đó năng lượng thần kinh di chuyển. Mỗi đường dẫn đó được gọi là một dây thần kinh (neurogram). Khi năng lượng thần kinh di chuyển trong một đường dẫn cụ thể hay một dây thần kinh nào đó, một ý tưởng tương ứng có khuynh hướng nảy sinh trong ý thức, khi năng lượng thần kinh chạy sang một đường hay dây thần kinh khác, tư tưởng đầu tiên sẽ phai mờ và một ý tưởng khác lại nảy sinh trong ý thức.
Nếu một trong những dây thần kinh ấy bị suy yếu hay bị hư hại thế nào đó, nếu còn có thể chuyên chở năng lượng thần kinh, nó sẽ chỉ chuyên chở một cách khó khăn. Bạn có thể so sánh tình huống này với một con đường với các ổ gà, ô tô chạy qua đó sẽ bị xóc và chao đảo. Bất cứ khi nào có thể, người lái xe đều tránh con đường xóc, khó khăn và đau đớn đó.
Sự ví von này sẽ giúp bạn hiểu “cơ chế tránh né” của tâm, vì theo cách tương tự như vậy năng lượng thần kinh sẽ tránh đi theo hay đi qua dây thần kinh đã trở thành khó khăn và đau đớn.
Không cần đến một biệt ngữ kỹ thuật hay sự đào tạo tâm lý học nào để nói rằng tất cả chúng ta đều hay tránh né sự đau đớn và khó chịu. Tất nhiên, chúng ta hay tránh né cái được xác định là đau đớn và khó chịu.
Hãy xem xét một ví dụ. Một đứa trẻ trải qua một kinh nghiệm hãi hùng, trải nghiệm đó thuộc loại gì không phải là vấn đề quan trọng lắm, nhưng điều đó làm nó rất khiếp đảm. Khi điều đó đã qua đi một thời gian, nó cố gắng không nghĩ tới nữa bởi vì khi nghĩ tới, nó lại trở nên sợ hãi. Điều này là hợp lý và dễ hiểu, và tất cả những điều đó xảy ra ở cấp độ ý thức. Sau đó, nó trở thành tiềm thức.
Nhưng điều này không có nghĩa là đứa trẻ ngay lập tức xoá nhoà tất cả trí nhớ về trải nghiệm hãi hùng đó; quá trìnhh này diễn ra từ từ theo quy luật, và lúc đầu việc đứa trẻ từ chối nghĩ về trải nghiệm ấy không có hiệu quả. Tuy nhiên về sau, việc đó dần dần thành công và đồng thời trở thành thói quen. Khi một hoạt động nào đó, thuộc tâm hay thân, trở thành thói quen, nó cũng trở nên ít có ý thức hơn.
Do vậy cơ chế tránh né lúc đầu là có ý thức sau đó dần dần chìm xuống tầng tiềm thức.
Có những loại kinh nghiệm khác bên cạnh nỗi sợ hãi khởi đầu sự vận động cơ chế tránh né; ví dụ sự khiếp sợ; kinh tởm, và nỗi đau thể chất. Mặc cảm tự ti cũng là một loại trải nghiệm, cảm giác tội lỗi và vô giá trị cũng vậy. Không ai muốn cảm thấy mình thấp hèn, tội lỗi và vô giá trị, và tâm thức ở cả cấp độ ý thức và tiềm thức đều có khuynh hướng tránh những cảm giác này.
Nhưng hãy quay trở lại ví dụ về người lái xe; nhận thấy con đường đầy ổ gà, khó đi và thậm chí gây đau đớn, anh ta tránh nó; tuy nhiên anh ta vẫn mong muốn đến đích bằng cách nào đó và không từ bỏ hành trình chỉ vì điều kiện con đường xấu. Anh ta tìm thấy một con đường khác cho dù đó là con đường vòng dài và hành trình xa hơn.
Cũng giống như vậy, năng lượng thần kinh không chịu dừng hoạt động vì một dây thần kinh nào đó bị ngăn trệ do bị đau, nó tìm ra một dây thần kinh khác cho nó đường đi dễ chịu. Khi điều này xảy ra trong não bộ, trong tâm sẽ nảy sinh một ý tưởng thay thế, vì trong khi tâm từ chối cho phép ý tưởng bị cái đau ngăn chặn phát sinh trong ý thức, nó chuyển hướng năng lượng của nó đến một ý tưởng dễ chấp nhận hơn. Đây là cơ chế “làm trệch hướng”.
Do cơ chế làm trệch hướng này, có những lúc bạn trải qua cảm xúc nhưng lại tự lừa dối về đối tượng thực sự của nó. Vì lý do nào đó bạn không muốn gắn cảm xúc cụ thể này cho đối tượng riêng biệt đó.
Ví dụ một đứa trẻ vừa yêu vừa ghét mẹ nó. Cần phải thấy rằng trên thực tế tất cả mọi đứa trẻ đều có những tình cảm lẫn lộn đối với cha mẹ chúng. Trên thực tế, nó có những thái độ lẫn lộn đối với nhiều thứ quan trọng trong đời, có nghĩa là nó vừa yêu vừa ghét chúng. Nó yêu quý cha mẹ lúc này vì họ chăm sóc nó và ghét họ lúc khác khi họ mắng chửi và trừng phạt nó; nhưng cả hai điều đối lập này đều luôn tồn tại tiềm ẩn trong cấu trúc tâm thức của nó.
Trong khi sự biểu lộ tình cảm yêu quý của đứa trẻ được cha mẹ đón nhận thì sự biểu lộ lòng căm ghét mang đến cho nó sự chê bai, chửi, đánh và có thể cả những bài thuyết giảng về tính xấu xa của việc không yêu quý cha mẹ.
Trong trường hợp một đứa trẻ nhạy cảm, tất cả sự chê bai và thuyết giáo này sẽ đem lại một cảm giác tội lỗi và đáng khinh và sau đó khi trở nên ý thức được sự căm ghét của mình, nó sẽ cố gắng kiềm chế. Nhưng không có hiểu biết thực sự về cách mà tâm thức của mình hoạt động, những nỗ lực kiểm soát những bột phát bản năng sẽ chỉ dẫn đến sự đè nén chúng.
Nhưng bất cứ yếu tố tinh thần nào bị đè nén đều không vì thế mà bị tiêu diệt, cảm xúc thù hận bị đè nén sẽ phải tìm lối thoát. Vì tình cảm căm ghét của đứa trẻ không thể chĩa vào bà mẹ, nó phải chĩa vào thứ gì khác, một thứ gì đó có vẻ ít gây ra sự phản đối chê bai của những người lớn. Ví dụ, đối tượng thay thế này có thể là giáo viên ở trường của nó.
Do đó cảm xúc bị chê bai được chuyển từ đối tượng thật là người mẹ sang đối tượng thay thế là giáo viên.
Bạn có thể dễ nhận thấy rằng cơ chế tránh né và cơ chế làm trệch hướng đi cùng với nhau. Năng lượng thần kinh tránh đi trên đường dẫn của não hoặc dây thần kinh làm nảy sinh những tư tưởng và cảm xúc tội lỗi, mặc cảm tự ti, vô giá trị, đau đớn, và nó được chuyển hướng sang những dây thần kinh tránh những cảm giác khó chịu này. Và nếu những dây thần kinh này làm nảy sinh những tư tưởng tự phụ, tự cao, hoặc tự đại, điều đó sẽ tốt hơn nhiều, hay ít ra nó có vẻ như vậy theo nghĩa thiển cận.
*
Tương tự như nỗi đau và những cảm xúc khó chịu có thể phá huỷ một dây thần kinh, khoái lạc về thể chất hay tình cảm có thể xoa dịu và cải thiện dây thần kinh khác và do đó tạo thuận lợi cho dòng năng lượng thần kinh chảy qua nó.
Lại quay trở lại thí dụ về người lái xe, anh ta sẽ tránh một con đường chật hẹp đầy ổ gà và chuyển hướng sang một con đường khác tốt hơn. Nhưng nếu có một con đường thứ ba đã được mở rộng, mặt đường tốt và có khung cảnh đẹp, thú vị suốt chặng đường thì anh ta sẽ đi trên con đường đó bất cứ khi nào có thể. Anh ta làm như vậy không phải lúc nào cũng vì nó dẫn đến một đích đặc biệt mà chỉ vì sự vui thích đi trên con đường đó cùng với các quang cảnh và viễn cảnh của nó. Thậm chí anh ta có thể làm vậy khi đáng lẽ anh ta nên đi đến nơi làm việc hoặc tập trung vào những trách vụ khác.
Cũng như vậy, năng lượng tinh thần sẽ chảy theo một dây thần kinh đem lại sự vui thích, mặc dù không có mục đích nào khác ngoài niềm vui thích mà nó mang lại, và thậm chí nó chẳng giải quyết vấn đề gì khác và không đưa lại một quyết định cụ thể nào. Điều này mô tả cơ chế “ngưng đọng”.
Ví dụ, nếu một đứa trẻ bị làm hư bởi sự nuông chiều, nếu bà mẹ quá chú ý đến sự thoải mái và vui thích của nó, nếu bà ta che chở quá mức và khen ngợi con quá đáng, tất cả bằng cái giá sự phát triển tính cách của đứa trẻ, thì năng lượng tinh thần của đứa trẻ sẽ trở nên gắn bó với hình ảnh tinh thần của bà mẹ.
*
Ở đây bạn có ba cơ chế tinh thần cơ bản – né tránh, gây ra bởi một dây thần kinh nào đó bị ngăn trệ vì đau đớn; trệch hướng, tuỳ thuộc vào dây thần kinh thay thế; và sự ngưng đọng phát sinh từ một dây thần kinh được tạo thuận lợi quá mức.
Nếu bạn chấp nhận ý tưởng rằng cùng với nhân loại nói chung, tâm bạn tận dụng những phương thức tự lừa dối khác nhau, bạn sẽ thấy những cơ chế đó là gốc rễ của nhiều sự tự lừa dối này và chính những dây thần kinh bị ngăn trệ vì đau giải thích cho sự chống đối rất tự nhiên đôi lúc nổi lên khi trong quá trình tự hiểu biết bản thân bạn buộc phải đối diện với những khía cạnh ít dịu ngọt trong tâm trí bạn.
Sự phản kháng này xuất hiện khi ai đó chất vấn sự đúng đắn hay giá trị của sự tự dối mình mà bạn hằng quý trọng. Sự phản kháng đó xuất hiện trên bề mặt như là sự khó chịu, sợ hãi, hoặc một loại thái độ tinh thần không hợp lý nào đó. Chức năng của nó – nếu bạn có thể gọi nó là chức năng- là giữ cho sự tự dối lừa được nguyên vẹn.
Cho đến khi bạn có thể vượt qua sự phản kháng này và đối diện với mọi sự tự lừa dối mình thì bạn vẫn bất lực với chúng; chúng ngự trị tư duy của bạn, và đây là một trong những khó khăn lớn nhất trong việc tự hiểu bản thân.
Minh Nguyệt dịch

xem nhiều hơn

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button